Diễn Đàn

Monday, September 28, 2026

MỘT BUỔI ĐI CÂU, MỘT CHUYỆN ĐỜI

Sáu giờ rưỡi sáng, hai ông bố già đã tới đón tôi.

Trời vẫn còn tối, ba anh em ghé tiệm donut, làm ly cà phê, ăn chút gì rồi vừa đi vừa tán gẫu. Sau đó ghé mua minnows làm cá mồi, chạy thẳng tới Lake Kemp, nơi Kelly có căn nhà nghỉ bên hồ. Đến nơi vừa đúng tám giờ.

Hôm nay coi bộ trúng mánh.

Cá cắn liên tục. Chừng hai tiếng là mỗi người đã đủ số được phép giữ. Thật ra chúng tôi câu được nhiều hơn, nhưng con nào dưới 14 inches, khoảng 35,6 cm, chưa đủ kích thước theo luật thì gỡ lưỡi câu rồi thả lại xuống hồ.

Mười giờ thu cần, ba anh em kéo nhau đi ăn. Đúng mười hai giờ trưa tôi đã về tới nhà.

Một buổi sáng tưởng chỉ có cà phê, cá và chuyện tào lao của ba ông già. Nhưng trên đường về, tôi lại nghĩ đến hai ông bạn này, nghĩ đến cách họ sống và nhất là cách họ sống với những người đàn bà đã đi bên cạnh mình gần hết một đời.

Thôi thì hôm nay kể đôi điều về họ.

Không phải để nói ai đúng, ai sai, cũng chẳng khuyên ai phải sống thế nào. Chỉ là những chuyện tôi tận mắt nhìn thấy, không phải một ngày mà gần như tuần nào cũng chứng kiến.

Tôi kể Kelly trước.

Vợ ông là Teresa, nhỏ hơn ông sáu tuổi. Teresa là một người đàn bà đẹp, ngay cả bây giờ khi tuổi đã cao bà vẫn giữ được nét đẹp rất riêng.

Có một điều tôi để ý khá lâu.

Kelly đi đâu, làm gì, về lúc nào, Teresa hầu như chẳng bao giờ gọi điện hỏi. Trừ khi có chuyện gì đặc biệt bà mới gọi.

Không phải bà không quan tâm chồng. Tôi nghĩ đơn giản là giữa hai người đã có một sự tin tưởng đến mức chẳng cần phải kiểm soát nhau nữa.

Teresa cũng có cuộc sống riêng. Bà có một nhóm khoảng tám người phụ nữ cùng tuổi, thường gặp nhau đọc sách, trò chuyện và chia sẻ đủ thứ chuyện.

Thứ Ba hàng tuần, đúng một giờ trưa, bà đi làm tóc. Quanh năm gần như không bỏ tuần nào. Nghe Kelly kể mỗi lần khoảng một trăm đô.

Tôi nghe xong chỉ cười.

Đàn ông chúng tôi đi câu, đàn bà đi làm tóc. Ai cũng có thú vui riêng, miễn cuối ngày còn nhớ đường về nhà là được.

Một điều nữa tôi thấy khá đặc biệt, Teresa hầu như chẳng bao giờ hỏi hay đụng tới chuyện tiền bạc của gia đình. Muốn đi đâu xa thì bà nói cho chồng biết. Kelly cũng vậy.

Hai người sống bên nhau nhưng mỗi người vẫn có một khoảng trời riêng.

Kelly có hai người con trai đều đã có gia đình.

Anh lớn tên Bill. Hai vợ chồng khá giả, không muốn có con nên nuôi một chú chó khá lớn và xem nó như con trong nhà.

Chú chó này cũng đi học đàng hoàng.

Ở Mỹ, chó đi học chẳng có gì lạ, nhưng cậu này nghe đâu học phí khoảng năm trăm đô một tuần. Hai vợ chồng thay nhau đưa đón đi học như trẻ con.

Chuyện vui nhất lại là Kelly và “đứa cháu bốn chân”.

Gần như ngày nào, khoảng năm sáu giờ chiều, hai ông cháu cũng nói chuyện điện thoại với nhau chừng một hai phút.

Mọi người biết họ nói gì không?

Hai ông cháu… hú với nhau.

Kelly hú một tiếng.

Đầu dây bên kia chú chó hú trả lời.

Ông lại hú.

Nó lại đáp.

Tôi ngồi bên cạnh chẳng hiểu hai ông cháu đang tâm sự chuyện gì.

Đương nhiên rồi, tôi có biết tiếng chó đâu.

Nhưng nhìn mặt Kelly thì hình như ông hiểu hết.

Hihihi.

Người con trai thứ hai là Mark, có vợ và hai con, cuộc sống gia đình bình thường.

Còn ông bạn già thứ hai của tôi là Arnold, đã ngoài chín mươi.

Hai ông bố già này mê câu cá, nhưng mục đích đi câu không chỉ để vui tuổi già.

Phần lớn cá câu được dành cho nhà thờ hoặc chia cho những người đã xin trước.

Ngày 13 tháng 10 này, Arnold lại tổ chức buổi chiên cá fillet gây quỹ thường niên cho nhà thờ. Năm nay ông đã chuẩn bị khoảng 1.500 con crappie, tức khoảng 3.000 miếng fillet.

Nghe con số thì đơn giản, nhưng nghĩ kỹ mới thấy bao nhiêu công sức nằm trong đó.

Từng con cá là do chính Arnold đi câu về. Ông tự làm sạch, fillet, chia vào túi Ziploc rồi cất đông. Cứ thế dành dụm suốt nhiều tháng để chờ ngày đem ra chiên gây quỹ.

Kelly cũng vậy.

Cá câu về, ông làm sạch, fillet rồi chia từng túi, thường mười miếng một túi, tức năm con cá. Sau đó để dành cho những người trong nhà thờ đã xin trước.

Điều tôi nể hai ông bạn già này là dù câu ở khu vực gần nhà, chẳng có ai đứng bên cạnh kiểm soát, họ vẫn giữ luật rất kỹ.

Cá chưa đủ kích thước thì thả. Đủ số được phép giữ là ngừng, dù cá đang cắn tới tấp.

Có lẽ làm một việc tốt thì trước hết cách mình làm cũng phải đàng hoàng.

Còn tôi thì khác.

Tôi cũng câu, cũng bắt cá.

Ai muốn ăn, tôi cho nguyên con.

Xin cứ tự nhiên mang về.

Còn làm sạch thì làm ơn tự làm giùm.

Tôi chỉ phụ trách phần câu thôi.

Hihihi.

Thành ra ba người cùng ngồi bên một cái hồ, cùng cầm cần câu, nhưng trách nhiệm sau khi con cá lên bờ thì mỗi người mỗi khác.

Arnold câu để gây quỹ.

Kelly câu để chia cho người khác.

Còn tôi câu để… có người mang cá về.

Hai ông bố già lo chuyện làm phước.

Còn tôi lo chuyện vui.

Thiện tai!

Nhưng điều làm tôi quý Arnold nhất lại không nằm ngoài hồ.

Vợ ông là Linda.

Bà Linda bây giờ trí nhớ và nhận thức không còn được như trước. Ban đêm bà thường có những ảo giác. Những câu chuyện Arnold kể cho chúng tôi nghe gần như ngày nào cũng giống nhau.

Có hôm ông kể:

Đêm qua, hai giờ sáng, Linda đánh thức tao dậy rồi nói:

Ông tắt TV đi, mở lớn quá tôi ngủ không được.

Trong khi chẳng có cái TV nào đang mở.

Có đêm bà lại nói:

Ông nói mấy đứa nhỏ vặn nhạc xuống đi. Khuya rồi, mở lớn quá hàng xóm không ngủ được.

Chẳng có đứa nhỏ nào.

Cũng chẳng có tiếng nhạc nào.

Arnold biết tất cả những điều ấy không có thật.

Nhưng tôi chưa bao giờ thấy ông khó chịu với bà.

Ông thức dậy, nhẹ nhàng dỗ dành, nói chuyện cho đến khi bà yên tâm rồi ngủ lại.

Gần như đêm nào cũng vậy.

Khoảng năm giờ sáng, Arnold thức dậy làm điểm tâm, chuẩn bị thuốc cho vợ uống rồi mới ra ngoài.

Đi câu với chúng tôi, ông luôn để ý giờ về.

Không phải vì cá đang cắn hay không.

Mà vì ở nhà có một người đang chờ ông chuẩn bị bữa chiều.

Có hôm trên đường về, ông còn ghé chợ hoặc nhà hàng mua món Linda thích.

Hai người có hai con trai đã lớn nhưng vì công việc đều sống xa, thành ra phần lớn thời gian Arnold tự tay chăm sóc vợ.

Tôi chưa từng nghe ông than phiền.

Cũng chưa từng thấy ông tỏ ra khó chịu khi nói về Linda.

Ông chỉ kể, đôi khi vừa kể vừa cười.

Tôi nghe những chuyện ấy hàng tuần rồi nhiều lúc tự hỏi:

Người bạn đời, rốt cuộc là gì?

Có lẽ lúc còn trẻ, người ta nghĩ tình yêu là những buổi hẹn hò, những món quà, những chuyến đi và những lời ngọt ngào.

Đi với nhau lâu hơn một chút, người ta mới hiểu còn có một thứ khác quan trọng hơn.

Đó là sự tin tưởng.

Giống như Kelly và Teresa.

Ông đi câu cá, bà đi làm tóc. Ông có bạn của ông, bà có nhóm bạn của bà. Không ai cần giữ người kia trong tầm mắt cả ngày để biết rằng mình vẫn còn quan trọng.

Bởi vì họ biết rồi người kia sẽ về.

Còn khi đã đi gần hết một đời như Arnold và Linda, tình yêu lại mang một hình dáng khác.

Chẳng cần hoa.

Chẳng cần quà.

Có khi chỉ là năm giờ sáng thức dậy làm điểm tâm.

Là những viên thuốc được chuẩn bị sẵn.

Là đang ngồi bên hồ vẫn nhớ nhìn đồng hồ để về đúng giờ.

Là trên đường về ghé mua món vợ thích.

Và đôi khi, tình yêu chỉ đơn giản là hai giờ sáng bị đánh thức bởi một tiếng TV không hề tồn tại, nhưng người đàn ông ngoài chín mươi ấy vẫn dịu dàng thức dậy để “tắt” nó cho người đàn bà của mình được ngủ yên.

Tôi không dám nói đó là cách sống đúng nhất.

Mỗi gia đình có một cách thương nhau.

Tôi chỉ kể những gì mình nhìn thấy.

Nhưng từ Kelly, Teresa, Arnold và Linda, tôi hiểu thêm một điều.

Sống với nhau lâu dài có lẽ không phải là giữ nhau thật chặt.

Mà là biết lúc nào nên cho người kia một khoảng trời riêng, và lúc nào cần đứng thật gần.

Khi còn khỏe mạnh, cho nhau tự do.

Khi một người yếu đi, biết ở lại.

Và mục đích sống đôi khi cũng chẳng cần điều gì lớn lao.

Một ông già ngoài chín mươi vẫn sáng sớm xách cần đi câu, tự tay làm sạch từng con cá, dành dụm suốt nhiều tháng để gây quỹ cho nhà thờ.

Một ông già khác câu cá rồi chia cho những người cần.

Họ tìm niềm vui cho mình, nhưng cuối cùng niềm vui ấy vẫn tìm được đường để đến với người khác.

Có lẽ tuổi già đẹp nhất không phải là mình còn bao nhiêu tiền, đi được bao nhiêu nơi hay sở hữu những gì.

Mà là mỗi sáng thức dậy vẫn biết hôm nay mình sống để làm gì.

Và bên cạnh mình vẫn còn một người để thương.

Người bạn đời có lẽ cũng không nhất thiết là người lúc nào cũng đi bên cạnh mình.

Mà là người cho mình đủ tự do để đi, nhưng khiến mình vẫn muốn trở về.

Và đến một ngày, khi một trong hai người không còn nhớ rõ thế giới chung quanh nữa…

người còn lại vẫn nhớ thay cho cả hai.

Nếu được như vậy,

thì đi với nhau một đời,

có lẽ cũng đáng lắm.


No comments:

Post a Comment