Chuyện gì tới rồi cũng phải tới. Sau bao ngày tôi ngồi bên hiên chờ Thu, hết nhìn trời lại ngó lá, cà phê nguội mấy lần mà bóng nàng vẫn biệt tăm. Tôi cứ tưởng nàng cố tình bắt người ta tương tư cho vui. Vậy mà hôm nay, chẳng báo trước, nàng bỗng xuất hiện. Vẫn tà áo ấy, vẫn gió vướng trên tóc, và nguy hiểm nhất vẫn là nụ cười khiến người đối diện quên mất mình định nói gì. Lần này tôi quyết không để nàng đi dễ dàng. Tôi giữ nàng lại, không phải bằng tay, mà bằng một câu hỏi. Và thế là giữa tôi với Thu bắt đầu một cuộc chuyện trò…
Tôi có chuyện này muốn nói với em từ mấy hôm nay.
Em đừng cười.
Mà thôi, em có muốn cười thì cứ cười. Vì hình như cái tật của em là vậy. Đi đến đâu cũng cười, gặp ai cũng cười, rồi để người ta về nhà mất ngủ.
Hôm qua tôi vừa chạm mặt em ngoài phố.
Em mặc chiếc váy màu nắng mật ong, tóc để gió nghịch tung vài sợi, trên vai chẳng biết ai rắc mấy hạt nắng vàng. Tôi đang đi rất đàng hoàng, bỗng phải chậm chân lại.
Em nhìn tôi:
- Sao anh nhìn em dữ vậy?
Tôi đáp:
- Tôi có nhìn đâu.
- Không nhìn mà suýt đụng cây?
Tôi quay lại.
Quả thật phía sau có cái cây.
May mà nó đứng yên.
Chứ nó mà biết đi chắc cũng đang chạy theo em rồi.
Em bật cười.
Trời đất!
Tôi đã bảo em đừng cười mà.
Em có biết mỗi lần em cười là thiên hạ lại có chuyện không?
Mấy ông thi sĩ đang sống rất bình thường, sáng cà phê, chiều tưới cây, tối lên Facebook coi thiên hạ làm thơ. Em vừa xuất hiện một cái, các ông ấy lập tức bỏ cà phê nguội trên bàn, chạy về lục giấy bút.
Người thì viết:
Thu nghiêng bên cửa…
Người khác không chịu thua:
Thu rơi trên tóc…
Ông thứ ba cao tay hơn:
Ta nhặt mùa thu bỏ túi…
Tôi đọc đến đó phải hỏi:
- Túi ông lớn cỡ nào vậy?
Em lại cười.
Tôi nói:
- Em thấy chưa? Mới đầu mùa mà giới thi sĩ đã có dấu hiệu không bình thường rồi đó.
Em nghiêng đầu:
- Chỉ thi sĩ thôi sao?
- Đâu có!
Mấy ông nhạc sĩ còn nặng hơn.
Đang yên đang lành, em thả một chiếc lá xuống sân, các ông nghe thành nguyên một đoạn điệp khúc.
Em đưa một sợi tóc qua chiều, thế là có người ôm đàn tới hai giờ sáng, dò hết hợp âm trưởng sang hợp âm thứ mà vẫn chưa tìm ra hợp âm nào giống… mắt em.
Vợ hỏi:
- Khuya rồi, ông chưa ngủ à?
Ông nhạc sĩ thở dài:
- Tôi đang tìm một nốt Thu.
Tôi nghĩ bụng: nốt Thu đâu chưa thấy, chỉ thấy sáng mai ông có thể nhận một nốt… nhạc khác từ bà xã.
Em che miệng cười.
- Anh nói xấu người ta.
- Tôi đâu dám. Tôi đang báo cáo thiệt hại do em gây ra.
Còn mấy ông họa sĩ mới đáng thương.
Trước khi em tới, bảng màu của họ vẫn còn xanh, trắng, đỏ, tím rất công bằng.
Em tới rồi thì thôi.
Vàng mật ong.
Vàng hổ phách.
Vàng nắng muộn.
Vàng lá úa.
Cam hoàng hôn.
Nâu chiều nhớ.
Tôi nhìn bảng màu mà chóng mặt.
Có ông ngồi cả buổi chỉ để pha một màu, tôi hỏi:
- Màu gì vậy?
Ông ấy nhìn xa xăm:
- Màu tà áo nàng Thu lúc bốn giờ mười bảy phút chiều.
Tôi chịu thua.
Người ta đã tương tư đến mức có cả… giờ giấc thì thuốc nào chữa nổi.
Nhưng nạn nhân nặng nhất phải kể đến mấy ông phó nhòm.
Em chỉ cần đứng dưới một hàng cây, hơi nghiêng đầu một chút là nghe máy ảnh lách cách như mưa.
Một ông nằm xuống đất chụp.
Một ông leo lên ghế.
Một ông lùi mãi để lấy toàn cảnh, suýt rơi xuống hồ.
Tôi hỏi:
- Có cần liều mạng vậy không?
Ông ấy đáp:
- Anh không hiểu nghệ thuật.
Tôi gật đầu.
Đúng.
Tôi không hiểu nghệ thuật.
Nhưng tôi hiểu nếu ông lùi thêm hai bước nữa thì nghệ thuật sẽ phải… biết bơi.
Em nghe tới đó cười nghiêng cả vai.
Tôi nhìn em rồi nói:
- Đấy! Chính cái cười này mới nguy hiểm.
Em hỏi:
- Nguy hiểm chỗ nào?
- Nó làm thơ mọc trên giấy, nhạc mọc trên dây đàn, màu mọc trên toan, còn hình thì mọc đầy thẻ nhớ.
Em chớp mắt:
- Còn anh?
Tôi im.
Em hỏi lại:
- Em làm gì anh chưa?
Tôi nhấp một ngụm cà phê, cố giữ vẻ bình thản của một người từng trải.
- Chưa.
- Thật không?
- Thật.
- Vậy sao cà phê nguội rồi mà anh chưa uống hết?
Tôi nhìn xuống.
Ừ nhỉ.
Chén cà phê nguội thật.
Em cười.
Lần này tôi hết đường chối.
Tôi đành thú nhận:
- Người ta gặp em thì làm thơ, viết nhạc, vẽ tranh, chụp hình. Còn tôi gặp em lại mắc một chứng hơi lạ.
- Chứng gì?
- Cứ muốn gặp lại.
Em im một chút.
Gió cũng tự nhiên bớt nghịch.
Một chiếc lá vàng từ đâu trút xuống giữa hai chúng tôi.
Em hỏi nhỏ:
- Vậy có chữa không?
Tôi nhìn em:
- Chắc không.
- Sao vậy?
- Bệnh này mà khỏi thì uổng.
Em phá lên cười.
Thế là xong.
Chiều hôm ấy, thi sĩ lại có thơ.
Nhạc sĩ lại ôm đàn.
Họa sĩ lại pha màu.
Phó nhòm lại lau ống kính.
Còn tôi đem chiếc lá vừa rơi nhặt bỏ vào túi.
Em hỏi:
- Anh nhặt lá làm gì?
Tôi đáp:
- Làm bằng chứng.
- Bằng chứng gì?
- Rằng chiều nay chính em đi ngang qua đây, cười một cái, rồi làm cả đám người đang sống rất bình thường bỗng hóa thành những kẻ tương tư.
Em quay đi, tà váy khẽ chạm vào gió.
Đi được vài bước, em còn ngoái lại:
- Thế anh có tương tư không?
Tôi định nói không.
Nhưng nhìn nụ cười ấy, tôi thấy nói dối với mùa thu cũng là một cái tội.
Thôi thì nhận.
- Có một chút.
Em hỏi:
- Một chút là bao nhiêu?
Tôi nhìn đám lá vàng đang rơi kín lối:
- Chắc… đếm hết chỗ lá này rồi tôi nói cho em biết.
Em lại cười.
Trời ạ!
Ôi Thu ơi…
Em quyến rũ vừa thôi.
Thi sĩ còn phải ăn.
Nhạc sĩ còn phải ngủ.
Họa sĩ còn phải về nhà.
Phó nhòm còn phải giữ mạng.
Còn tôi…
Tôi còn phải giữ chút bình thản cuối cùng để ngày mai, nếu lại chạm mặt em, ít nhất cũng đừng vì nhìn theo một tà áo mà… đụng vào cái cây hôm nay.




