Thứ Hai cuối cùng của tháng Chín, tôi lại có hẹn với hai bố già.
Hai ông một tuần đi câu bốn, năm ngày. Không hẳn vì mê bắt cá, mà vì một lý do nghe rất khó đỡ:
Không bắt được cũng được, miễn phải nhìn thấy cá.
Tôi nghe xong mới hiểu, tới một tuổi nào đó, câu cá với chuyện tình cảm cũng hơi giống nhau. Có những thứ chẳng cần mang về nhà, nhìn thấy thôi cũng đủ vui rồi.
Còn tôi lọt vào hội của hai bố già này hoàn toàn do tình cờ.
Khoảng bảy năm trước, người em họ Tommy Le rủ tôi ra Lake Wichita câu cá. Hồ chỉ cách nhà chú ấy khoảng một mile, còn từ nhà tôi chừng ba miles.
Hôm ấy ra tới nơi, tôi nhìn quanh thấy khá đông người câu, hầu hết là người Mỹ, chỉ có mấy anh em tôi là người Việt.
Lúc đó trình độ câu cá của tôi rất đáng nể.
Nể ở chỗ chẳng biết gì mà vẫn dám xách cần ra hồ.
Tommy chuyên câu catfish nên đưa cho tôi bộ đồ nghề của chú ấy. Tôi cứ thế cầm ra hồ, trong khi người ta đang câu crappie.
Một ông già đứng gần đó nhìn tôi hồi lâu.
Chắc ông thấy tội nhiều hơn thấy tức cười.
Ông bước tới chỉ cho tôi cách câu jig, rồi đưa luôn cây cần của ông cho tôi thử. Câu crappie dùng cần nhỏ và mềm hơn, cước, lưỡi, mồi cũng khác. Còn tôi lúc ấy chẳng biết trời trăng gì, người ta đi đánh tennis mà mình mang theo cây gậy golf chắc cũng cỡ đó.
Ông già ấy tên Mike Kelly, nay đã ngoài 80 tuổi .
Từ hôm đó, mỗi lần gặp nhau ngoài hồ chúng tôi lại nói chuyện. Ban đầu nói cá, sau nói chuyện đời, rồi chẳng biết từ lúc nào thành bạn.
Còn ông Arnold, nay đã ngoài 90 tuổi, tôi từng gặp nhiều lần nhưng chỉ thật sự thân khoảng ba năm nay, cũng nhờ Mike giới thiệu.
Thế là thành bộ ba.
Hai bố già Mỹ và một thằng Việt Nam lẽo đẽo theo sau.
Mấy năm đầu, chúng tôi chỉ quanh quẩn khoảng năm cái hồ gần thành phố. Lái xe 25 đến 45 phút là tới. Tôi cứ nghĩ hai ông cũng giống bao người về hưu khác, sáng uống cà phê, xách cần ra hồ, chiều về với vợ.
Ai dè tôi lầm hơi lớn.
Khoảng hai năm trở lại đây, cá ở những hồ quen trở nên thất thường nên hai ông bắt đầu rủ tôi đi xa.
Đi rồi tôi mới té ngửa.
Mike và vợ sở hữu vài ngàn mẫu đất, trên đó có hàng ngàn máy bơm dầu. Mỗi ngày mấy cái máy ấy bơm ra bao nhiêu dầu, đổi thành bao nhiêu tiền, tôi không biết.
Mà tôi cũng không hỏi.
Hỏi nhiều quá, lỡ người ta tưởng mình đổi nghề từ câu cá sang câu đại gia thì phiền.
Ông còn có nhà ở Lake Kemp và một crappie house ngay trên mặt nước. Hai người con trai đều đã trưởng thành, thành đạt, có gia đình và sống ở thành phố khác.
Tới ông Arnold thì cũng chẳng chịu thua.
Thời trẻ ông là thương gia. Ông có căn nhà bên hồ ở Breckenridge, nghe đâu trị giá khoảng ba triệu đô. Dưới nước lại có nhà nổi để chứa hai chiếc tàu, mỗi chiếc hơn một trăm ngàn.
Tới lúc đó tôi mới hiểu một chân lý.
Người như tôi mua hộp mồi còn nhìn giá.
Hai bố này mua tàu chắc nhìn màu.
Điều buồn cười là chơi với nhau mấy năm tôi chẳng biết họ giàu. Hai ông ăn mặc bình thường, nói chuyện bình thường, chẳng thấy khoe khoang gì. Gặp một đàn crappie bên dưới là mắt sáng lên, vui chẳng khác gì trẻ con được cho kẹo.
Từ ngày biết hai ông là đại gia, thái độ của tôi cũng chẳng thay đổi bao nhiêu.
Chỉ có một chuyện.
Bước lên tàu nhẹ chân hơn trước.
Sợ làm trầy.
Nhưng rồi càng chơi lâu, tôi càng nhận ra cái đáng quý nhất ở hai bố già này lại chẳng liên quan gì tới đất, dầu, nhà hay tàu.
Hình như trong từ điển của hai ông không có cụm từ ly dị.
Cả hai đều đã sống với người bạn đời của mình gần trọn một đời người. Bây giờ con cái đã trưởng thành, có gia đình và cuộc sống riêng, hai ông bà lại trở về với nhau như thuở ban đầu.
Chỉ khác là tóc đã bạc và bước chân chậm hơn.
Thỉnh thoảng hai ông vẫn đưa vợ đi ăn.
Có hôm chẳng phải sinh nhật, kỷ niệm hay ngày lễ gì cả. Hai ông chỉ chở vợ ra căn nhà bên hồ vốn phần lớn thời gian để không, ở đó một hai hôm cho thay đổi không khí.
Ngồi nhìn mặt hồ.
Ăn với nhau một bữa cơm.
Sáng uống tách cà phê.
Rồi lại chở nhau về.
Chỉ vậy thôi.
Chẳng hoa hồng, chẳng quà cáp ồn ào, cũng chẳng cần đưa lên Facebook cho thiên hạ biết mình đang hạnh phúc.
Ông vẫn còn chở bà đi.
Bà vẫn còn ngồi bên cạnh ông.
Vậy là đủ.
Có lẽ đến tuổi của họ, người ta mới hiểu giàu có thật sự đôi khi chẳng nằm trong tài khoản ngân hàng.
Nhà ba triệu thì mỗi tối cũng chỉ ngủ trên một chiếc giường.
Có vài ngàn mẫu đất thì lúc câu cá cũng chỉ đứng được một chỗ.
Tàu hơn trăm ngàn thì cái mông mình cũng chỉ ngồi được trên một cái ghế.
Nhưng sau năm sáu chục năm, quay sang mà người năm xưa vẫn còn ngồi đó, cái ấy có nhiều tiền chưa chắc mua được.
Riêng bà xã ông Arnold cũng đã 90 tuổi. Trí nhớ của bà đôi lúc không còn được như trước, nhưng bà vẫn rất quý chúng tôi.
Có một chuyện khá vui.
Mỗi lần gặp tôi, bà thường căn dặn:
Đừng cho ông JT tới câu nhé, tôi không thích ông ấy.
Tôi cũng chẳng biết JT đã làm gì mà bị bà đưa vào sổ đen.
Chỉ biết có những chuyện bà có thể quên.
Riêng ông JT thì nhất định không.
Thế mới biết bộ nhớ con người kỳ lạ. Chuyện cần nhớ đôi khi quên sạch, còn người mình không ưa thì hệ thống tự động lưu vĩnh viễn, khỏi cần backup.
Ngày mai thứ Hai cuối tháng Chín này, tôi lại theo hai bố già lên đường.
Ba người, ba cây cần, mấy ly cà phê.
Cá có chịu cắn hay không chưa biết.
Nhưng nghĩ kỹ, tôi thấy mình cũng giàu lắm.
Hai ông giàu đất, giàu dầu, giàu nhà, giàu tàu.
Còn tôi có hai ông bạn già có tàu.
Thế là khỏi mua.
Nói vui vậy thôi.
Sau những chuyến đi, điều tôi mang về không phải chỉ là mấy con crappie. Tôi học được từ hai ông một điều khá giản dị.
Có tiền mà sống bình thường đã khó.
Có tuổi mà còn bạn để đi cùng càng khó.
Và đi gần hết một đời, quay sang vẫn còn người bạn đời ngồi bên cạnh mình, có lẽ đó mới là cái giàu đáng kể nhất.
Cảm ơn anh chị và các bạn đã ghé đọc chút tản mạn cuối tháng Chín.
Chúc mọi người một tuần mới nhiều sức khỏe, nhiều bình an, có vài người bạn để cùng cười, và có một người để cùng mình đi hết đoạn đường còn lại.
Còn tôi, sáng mai lại theo hai bố già đi câu.
Cá có hay không tính sau.
Cà phê phải có trước.